VÌ SAO BỆNH UNG THƯ TỬ CUNG : NGUYÊN NHÂN, DẤU HIỆU, ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA

Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phổ biến và nguy hiểm hàng đầu ở phụ nữ trên thế giới. Nếu phát hiện sớm, ung thư cổ tử cung có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên, đa phần bệnh không được phát hiện sớm do triệu chứng không rõ ràng. Tại Việt Nam, căn bệnh này đang có dấu hiệu trẻ hóa “thần tốc” về độ tuổi, hy hữu nhất là trường hợp 14 tuổi đã phát hiện mắc ung thư cổ tử cung.

Bạn đang xem: Vì sao bệnh ung thư tử cung


Mục lục

Các loại ung thư cổ tử cung phổ biến
Dấu hiệu nhận biết ung thư cổ tử cung
Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung
Phòng ngừa ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là gì?

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư xảy ra ở các tế bào lót của cổ tử cung. Cổ tử cung là phần dưới của tử cung (dạ con), nối tử cung với âm đạo. Cổ tử cung được bao phủ một lớp mô mỏng được tạo thành từ các tế bào ở cổ tử cung. Ung thư bắt đầu khi các tế bào lót ở cổ tử cung phát triển không kiểm soát và lấn át các tế bào thường, tạo thành khối u trong cổ tử cung.

*

Cổ tử cung được cấu tạo bởi hai phần và được bao phủ bởi 2 loại tế bào khác nhau. Các tế bào tuyến bao phủ ở phần mở của cổ tử cung dẫn vào tử cung. Tế bào vảy bao phủ phần bên ngoài của cổ tử cung – nơi bác sĩ có thể nhìn thấy khi khám bằng mỏ vịt. Nơi hai loại tế bào này gặp nhau trong cổ tử cung có tên là vùng biến đổi. Hầu hết ung thư ở cổ tử cung bắt đầu từ các tế bào ở vùng biến đổi.

Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Bệnh ung thư cổ tử cung bắt đầu với những thay đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, thường phát triển âm ỉ trong thời gian dài (mất vài năm), thường do nhiễm virus HPV.

Ung thư sinh ra do đột biến DNA (khiếm khuyết gen) làm xuất hiện các gen sinh ung thư hoặc làm vô hiệu hóa gen ức chế khối u (gen kiểm soát sự phát triển tế bào, làm cho tế bào chết đúng lúc). Hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung đều do nhiễm các chủng khác nhau của virus gây u nhú ở người – Human Papillomavirus (HPV). HPV có nhiều chủng nguy cơ cao gây các loại ung thư như ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, ung thư âm hộ, ung thư dương vật, mụn cóc sinh dục, amidan

HPV có 2 loại protein là E6 và E7 có tác dụng tắt một số gen ức chế khối u, từ đó cho phép các tế bào lót ở cổ tử cung phát triển quá mức, phát triển các thay đổi trong gen, dẫn đến tình trạng ung thư.

Phụ nữ từ 35 đến 44 tuổi dễ mắc ung thư cổ tử cung. Hơn 15% trường hợp mắc mới được ghi nhận là ở phụ nữ trên 65 tuổi, đặc biệt là ở những trường hợp không được khám sàng lọc ung thư thường xuyên.

⇒ Tìm hiểu ngay: 12 type hpv nguy cơ cao là gì? Cách nào để ngăn ngừa?

Các loại ung thư cổ tử cung phổ biến

Ung thư biểu mô tế bào vảy

Ung thư biểu mô tế bào vảy là loại ung thư chủ yếu ở cổ tử cung (chiếm 90%). Loại ung thư này phát triển từ các tế bào vảy, bắt đầu ở vùng biến đổi.

Ung thư biểu mô tuyến

Ung thư biểu mô tuyến cũng là loại ung thư phổ biến ở cổ tử cung, phát triển từ tế bào tuyến sản xuất chất nhờn.

Ung thư biểu mô hỗn hợp

Ung thư biểu mô hỗn hợp ít phổ biến hơn, có đặc điểm của cả ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tuyến.

Mặc dù hầu hết tất cả các loại ung thư cổ tử cung là ung thư biểu mô tế bào vảy hoặc ung thư biểu mô tuyến, một số loại ung thư khác cũng có thể phát triển ở cổ tử cung như saroma, melanoma, ung thư hạch.

Thời gian ủ bệnh ung thư cổ tử cung

Thông thường thời gian ủ bệnh của các loại ung thư là khá lâu, trung bình khoảng 10 năm. Một số loại ung thư có thời gian ủ bệnh ngắn hơn. Đối với ung thư cổ tử cung thời gian ủ bệnh thường hơn 10 năm. Trong thời gian này, những triệu chứng thường không rõ ràng nên rất khó phát hiện.

Các giai đoạn của ung thư cổ tử cung

Các giai đoạn ung thư mô tả mức độ lan rộng của ung thư trong cơ thể, mức độ nghiêm trọng và cách điều trị phù hợp. Giai đoạn ung thư cổ tử cung được xác định dựa trên thông tin khám lâm sàng, các xét nghiệm, kích thước khối u, mức độ xâm lấn của tế bào ung vào các mô xung quanh cổ tử cung, di căn.

Theo phân loại của Liên đoàn phụ khoa và sản khoa quốc tế FIGO, ung thư cổ tử cung chia thành 4 giai đoạn từ I (1) đến IV (4). Con số càng thấp, ung thư càng ít xâm lấn. Con số càng lớn cho thấy tình trạng bệnh ung thư nghiêm trọng.

Giai đoạn I:

Các tế bào ung thư đã phát triển từ bề mặt của cổ tử cung vào các mô sâu hơn của cổ tử cung
Ung thư không lan đến các hạch bạch huyết gần đó
Ung thư không lan đến các vị trí xa

Giai đoạn II:

Ung thư đã phát triển ra ngoài cổ tử cung và tử cung, nhưng không lan đến khung chậu hoặc phần dưới âm đạo
Ung thư không lan đến các hạch bạch huyết gần đó
Ung thư không lan đến các vị trí xa

Giai đoạn III:

Ung thư đã lan đến phần dưới của âm đạo hoặc sát khung chậu. Khối u có thể làm tắc niệu quản (ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang)Ung thư không lan đến các hạch bạch huyết gần đó
Ung thư không lan đến các vị trí xa

Giai đoạn IV:

Ung thư đã phát triển vào bàng quang hoặc trực tràng, đến các cơ quan xa như phổi, xương, gan…

Tiên lượng của ung thư cổ tử cung xâm lấn dựa vào các giai đoạn này

Tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở giai đoạn I từ 80% đến 90%Tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở giai đoạn II từ 50% đến 65%Tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở giai đoạn III từ 25% đến 35%Tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở giai đoạn IV là dưới 15%

Dấu hiệu nhận biết ung thư cổ tử cung

Phụ nữ bị ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu và tiền ung thư cổ tử cung thường không có triệu chứng rõ ràng. Khi khối u ác tính trở nên lớn hơn và di căn vào các mô lân cận, các dấu hiệu ung thư cổ tử cung sẽ xuất hiện.

Dấu hiệu thường gặp

Chảy máu âm đạo bất thường: Chảy máu sau khi quan hệ tình dục qua đường âm đạo, chảy máu sau khi mãn kinh, chảy máu rỉ rả giữa các kỳ kinh hoặc kinh nguyệt kéo dài hơn so với chu kỳ bình thường.Tiết dịch bất thường từ âm đạo: Dịch tiết có thể chứa một ít máu và có thể xảy ra giữa chu kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi mãn kinh.Đau khi quan hệ tình dục
Đau ở vùng xương chậu

Sau khi di căn

Sưng chân
Khó đi tiểu hoặc đi tiêu
Có máu trong nước tiểu
Suy thận
Đau xương
Giảm cân và chán ăn
Mệt mỏi

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung

Yếu tố nguy cơ là bất cứ thứ gì có khả năng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Mỗi loại ung thư có các nguy cơ khác nhau. Nhưng có một hoặc một số yếu tố nguy cơ không đồng nghĩa là bạn sẽ mắc bệnh. Ở ung thư cổ tử cung, có một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển tế bào ung thư. Những người không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào trong số này sẽ hiếm khi bị ung thư cổ tử cung.

Điều quan trọng khi đề cập đến yếu tố nguy cơ là nên tập trung vào những yếu tố nguy cơ mà bạn có thể thay đổi hoặc tránh được như thói quen hút thuốc hoặc nhiễm virus papillomavirus ở người. Một số yếu tố nguy cơ mà chúng ta sẽ không thể thay đổi được là tuổi tác hoặc yếu tố di truyền. Với yếu tố di truyền, việc xét nghiệm tầm soát để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung là rất cần thiết.

Có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung do mắc HPV, như: nhiều bạn tình, bạn tình quan hệ với nhiều người, quan hệ tình dục dưới 18 tuổi. Một người có tiền sử bị loạn sản cổ tử cung hay gia đình có người thân từng bị ung thư cổ tử cung cũng là các yếu tố nguy cơ cao. Một số yếu tố nguy cơ cao khác là thói quen hút thuốc lá, bị mắc một số bệnh lây truyền qua đường tình dục như Chlamydia, hệ thống miễn dịch suy yếu…

Nhiễm virus u nhú ở người (HPV)

Nhiễm virus u nhu ở người (HPV) là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư cổ tử cung. HPV là một nhóm gồm hơn 150 chủng virus, một trong số các chủng này gây ra u nhú (mụn cóc) trên các bộ phận cơ thể người. HPV có thể lây nhiễm trên các tế bào ở bề mặt da, tế bào lót bộ phận sinh dục, hậu môn, miệng và cổ họng nhưng không lây nhiễm vào máu hay vào các cơ quan nội tạng như tim, phổi. HPV có thể lây từ người này sang người khác khi có tiếp xúc da với da, qua hoạt động tình dục bao gồm đường âm đạo, hậu môn và đường miệng.

*

Một số chủng virus HPV gây ra mụn cóc thông thường trên bàn tay, bàn chân, môi hoặc lưỡi; mụn cóc trên hoặc quanh cơ quan sinh dục nam và nữ, vùng hậu môn. Tuy nhiên, thường đây là chủng virus HPV nguy cơ thấp, hiếm khi gây ung thư. Một số chủng virus HPV gọi là loại nguy cơ cao vì liên quan mật thiết đến việc gây ra bệnh ung thư như ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, ung thư dương vật, ung thư hậu môn, miệng và cổ họng. Nhiễm HPV được xem là rất phổ biến và hầu hết, cơ thể con người có thể tự loại bỏ virus HPV. Tuy nhiên, đôi khi virus này không thể bị loại bỏ, trở thành nhiễm trùng mãn tính sẽ gây ra một số bệnh ung thư, trong đó có ung thư cổ tử cung. Vắc xin ngừa HPV là cách hiệu quả để ngăn ngừa nhiễm trùng do một số chủng virus HPV cũng như ung thư do HPV gây ra.

Tiền sử tình dục

Những yếu tố liên quan đến tiền sử tình dục cũng có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư cổ tử cung, gồm: hoạt động tình dục khi còn trẻ (đặc biệt là dưới 18 tuổi), có nhiều bạn tình, có một bạn tình nhưng lại có yếu tố nguy cơ cao (bị nhiễm HPV hoặc người này có nhiều bạn tình).

Nhiễm Chlamydia

Vi khuẩn Chlamydia lây lan qua quan hệ tình dục. Phụ nữ nhiễm Chlamydia thường không có triệu chứng, có thể không biết mình bị nhiễm trừ khi được xét nghiệm khi khám phụ khoa. Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn ở những phụ nữ có xét nghiệm máu và chất nhầy ở cổ tử cung có nhiễm Chlamydia. Một số nghiên cứu cho thấy vi khuẩn Chlamydia có thể giúp HPV phát triển và sống trong cổ tử cung, làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.

Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài

Có bằng chứng cho thấy uống thuốc tránh thai trong thời gian dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên nguy cơ này sẽ giảm đi khi ngừng thuốc tránh thai.

Đối tượng dễ mắc ung thư cổ tử cung

Virus HPV là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ung thư cổ tử cung. Đối tượng dễ mắc ung thư cổ tử cung, như:

Người có hệ thống miễn dịch bị suy yếu

Virus HIV gây bệnh AIDS làm suy yếu hệ thống miễn dịch, khiến con người có nguy cơ nhiễm virus HPV cao hơn. Phụ nữ nhiễm HIV, tiền ung thư cổ tử cung có thể phát triển thành ung thư xâm lấn nhanh hơn bình thường. Nhóm phụ nữ dùng thuốc để ngăn chặn phản ứng miễn dịch như đang điều trị bệnh tự miễn, người cấy ghép nội tạng cũng có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung.

Hút thuốc

Phụ nữ hút thuốc lá có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao gấp đôi người không hút thuốc. Các hóa chất do hút thuốc được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của những phụ nữ hút thuốc lá, được cho làm hư hỏng DNA của tế bào cổ tử cung, góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc lá cũng làm cho hệ thống miễn dịch hoạt động kém hiệu quả khi chống lại virus HPV.

Mang thai nhiều lần hoặc mang thai quá sớm

Phụ nữ từng mang thai nhiều lần có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn. Những thay đổi nội tiết tố trong thời kỳ mang thai khiến phụ nữ dễ nhiễm HPV hoặc phát triển ung thư. Ngoài ra, phụ nữ mang thai có hệ thống miễn dịch yếu hơn, dễ nhiễm HPV và phát triển ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ dưới 20 tuổi khi mang thai có nhiều khả năng bị ung thư cổ tử cung hơn so với những phụ nữ mang thai khi từ 25 tuổi.

Tình trạng thu nhập thấp, chế độ ăn

Phụ nữ có thu nhập thấp khó khăn khi được chăm sóc sức khỏe đầy đủ như tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap, xét nghiệm HPV, dẫn đến không phát hiện sớm, điều trị tiền ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, chế độ ăn ít trái cây, ít rau quả cũng có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung.

Thuốc nội tiết tố DES

DES là loại thuốc nội tiết tố được dùng cho một số phụ nữ từ năm 1938 đến 1971 để ngăn sảy thai. Những phụ nữ có mẹ dùng DES khi mang thai có nguy cơ phát triển ung thư trong âm đạo hoặc cổ tử cung. (1)

Có tiền sử gia đình bị ung thư cổ tử cung

Nếu trong gia đình có mẹ hoặc chị gái bị ung thư cổ tử cung thì bạn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người không có ai trong gia đình mắc bệnh này. Yếu tố di truyền có thể khiến một số phụ nữ chống lại nhiễm trùng HPV kém hơn những người khác.

*

Các biến chứng của ung thư cổ tử cung

Giống như hầu hết các bệnh ung thư khác, ung thư cổ tử cung có thể di căn đến các bộ phận khác của cơ thể và gây ra các biến chứng nghiêm trọng. Các phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung có thể ảnh hưởng đến khả năng mang thai, tăng khả năng sảy thai trong những lần mang thai sau này. Ung thư cổ tử cung cũng có thể dẫn đến việc bệnh nhân không thể có con do phải cắt bỏ tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng. Ngoài ra, các phương pháp điều trị ung thư như phẫu thuật, hóa trị, xạ trí có thể gây ra hàng loạt các tác dụng phụ.

Phương pháp chẩn đoán, xét nghiệm ung thư cổ tử cung

Xét nghiệm tế bào cổ tử cung – Pap smear

Các bác sĩ sẽ lấy các tế bào từ cổ tử cung để làm xét nghiệm Pap (kỹ thuật viên quan sát các tế bào cổ tử cung dưới kính hiển vi). Xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung là một phần trong quá trình khám phụ khoa. Ngoài ra, có thể kết hợp xét nghiệm tìm HPV cùng lúc với xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Xét nghiệm máu

Xét nghiệm máu không dùng để chẩn đoán ung thư cổ tử cung nhưng được thực hiện để bác sĩ hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Soi cổ tử cung

Khi kết quả xét nghiệm Pap cho thấy có các tế bào bất thường hoặc xét nghiệm HPV dương tính, bác sĩ sẽ chỉ định soi cổ tử cung để tìm những dấu hiệu bất thường ở cổ tử cung, lấy mẫu mô nhỏ để sinh thiết. Bác sĩ soi cổ tử cung bằng cách sử dụng camera có gắn đèn ở đầu một ống nhỏ để quan sát kỹ bên trong âm đạo và cổ tử cung. Bác sĩ dùng kính hiển vi phóng đại cổ tử cung từ 8-15 lần để tìm kiếm các tế bào bất thường.

Các loại sinh thiết cổ tử cung

Sinh thiết được sử dụng để chẩn đoán tiền ung thư, ung thư cổ tử cung, gồm: sinh thiết nội soi cổ tử cung, nạo nội mạc cổ tử cung, sinh thiết chóp cổ tử cung.

Soi bàng quang, nội soi đại tràng và khám có gây mê

Các xét nghiệm, thủ thuật này này thường được thực hiện ở những phụ nữ có khối u lớn, thường không thực hiện nếu ung thư được phát hiện sớm.

Chẩn đoán hình ảnh

Một số chẩn đoán hình ảnh được thực hiện để xác định tế bào ung thư đã di căn hay chưa, giúp cho việc lên kế hoạch điều trị. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thường được chỉ định, gồm:

Chụp CT (chụp cắt lớp vi tính): Chẩn đoán hình ảnh này để đánh giá mức độ lan rộng của tế bào ung thư.Chụp MRI (chụp cộng hưởng từ): Có thể đánh giá tình trạng các mô mềm của cơ thể tốt hơn các chẩn đoán hình ảnh khác.Chụp X-quang ngực: Kiểm tra ung thư cổ tử cung đã di căn đến phổi chưa.Chụp PET, chụp PET/CT: Kiểm tra tình trạng di căn của ung thư cổ tử cung

Các phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung

Các phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung phổ biến gồm:

Phẫu thuật

Nếu ung thư chỉ ở trên bề mặt cổ tử cung, bác sĩ có thể loại bỏ hoặc tiêu diệt các tế bào ung thư bằng thủ thuật như LEEP hoặc cấy dao lạnh. Nếu tế bào ung thư đã đi qua một lớp gọi là màng đáy (ngăn cách bề mặt cổ tử cung các lớp bên dưới), có thể phải cần phẫu thuật. Nếu bệnh đã xâm lấn vào các lớp sâu hơn của cổ tử cung nhưng chưa lan sang các bộ phận khác của cơ thể, có thể phải phẫu thuật để lấy khối u ra ngoài. Nếu tế bào ung thư lan vào tử cung, bác sĩ sẽ đề nghị cắt bỏ tử cung.

Xem thêm: Không Chữa Bệnh Viêm Xoang, Đừng Chủ Quan Với Viêm Xoang Cấp

Một số phương pháp phẫu thuật được dùng trong điều trị ung thư cổ tử cung, như: phẫu thuật lạnh, phẫu thuật bằng tia laser, phẫu thuật khoét chóp cổ tử cung, cắt bỏ tử cung.

Xạ trị

Xạ trị là dùng các tia năng lượng cao (tia X) để tiêu diệt tế bào ung thư, ngăn chặn sự phát triển của chúng. Xạ trị gồm xạ trị ngoài (bắn tia phóng xạ từ bên ngoài cơ thể) và xạ trị trong (đưa nguồn phóng xạ vào âm đạo, gần cổ tử cung).

Hóa trị

Hóa trị là điều trị bằng thuốc, thường được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch. Hóa trị được thực hiện theo từng đợt, kéo dài nhiều tháng.

Dùng thuốc nhắm trúng đích

Liệu pháp nhắm trúng đích là dùng những loại thuốc nhắm vào các tế bào ung thư, không ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh bình thường.

Liệu pháp miễn dịch

Liệu pháp miễn dịch là điều trị tăng cường hệ thống miễn dịch của bệnh nhân ung thư.

Tùy vào loại ung thư và giai đoạn ung thư, có thể có nhiều hơn một phương pháp điều trị. Ở giai đoạn sớm của ung thư cổ tử cung, phương pháp điều trị phổ biến là phẫu thuật, xạ trị kết hợp hóa trị. Ở giai đoạn sau, phương pháp điều trị phổ biến là xạ trị kết hợp với hóa trị. Kế hoạch điều trị ung thư do đó phụ thuộc vào giai đoạn ung thư, loại ung thư, tuổi, các vấn đề sức khỏe trước đó, tác dụng phụ của phương pháp điều trị ung thư.

*

Ung thư cổ tử cung ăn gì, kiêng gì?

Việc ăn uống đầy đủ giúp cơ thể bệnh nhân ung thư cổ tử cung duy trì sức mạnh, năng lượng và khả năng đề kháng chống lại tình trạng nhiễm trùng trong quá trình điều trị, vượt qua các tác dụng phụ của hóa xạ trị. Một số phương pháp điều trị ung thư sẽ hiệu quả hơn ở những người có chế độ dinh dưỡng đủ calo và protein.

Đừng ngại thử những món ăn mới. Một số món bạn chưa từng thích trước đây có thể ngon trong quá trình điều trị.Chọn các thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác nhau. Thử ăn đậu thay cho thịt vào vài bữa mỗi tuần.Ăn nhiều trái cây và rau quả mỗi ngày
Hạn chế hoặc tránh các loại thịt đỏ hoặc thịt đã qua chế biến, đồ uống có đường và thực phẩm chế biến sẵn.Nên chia nhỏ các bữa ăn trong ngày, cách nhau khoảng 2 giờ

Chăm sóc người bệnh ung thư cổ tử cung

Gia đình sẽ là chỗ dựa tốt nhất để người bệnh an tâm điều trị.

Luôn giữ tinh thần lạc quan, thoải mái cho người bệnh
Người bệnh có thể thực hiện các động tác thể dục nhẹ nhàng, tập dưỡng sinh, yoga
Người bệnh nên ngủ đủ giấc
Bỏ hút thuốc lá
Không uống rượu
Sau khi điều trị ung thư cổ tử cung, nên tái khám định kỳ.

Phòng ngừa ung thư cổ tử cung

Hai yếu tố quan trọng nhất theo hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) là chủng ngừa HPV và thường xuyên kiểm tra sức khỏe để phát hiện sớm những thay đổi của tế bào cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung thường bắt đầu với những thay đổi tiền ung thư. Do đó, có thể ngăn chặn ung thư bằng cách phát hiện và điều trị tiền ung thư hoặc thực hiện các biện pháp ngăn chặn tiền ung thư.

*

Vắc xin

Hiện nay, vắc xin Gardasil giúp ngăn ngừa nhiễm các chủng virus HPV thường liên quan đến ung thư cũng như gây ra mụn cóc ở hậu môn và đường sinh dục. FDA đã phê duyệt Gardasil cho nam và nữ tuổi từ 9 đến 26. Các loại vắc xin này chỉ có tác dụng ngăn ngừa nhiễm virus HPV, không có tác dụng điều trị nhiễm trùng. Do đó, để có hiệu quả phòng ngừa tốt nhất, cần tiêm vắc xin HPV trước khi có sự tiếp xúc với virus HPV (như qua quan hệ tình dục). Những vắc xin này có tác dụng ngăn ngừa tiền ung thư và ung thư cổ tử cung. Tác dụng phụ thường nhẹ với các triệu chứng tại chỗ tiêm như đỏ, đau, sưng tấy trong thời gian ngắn.

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ ACS khuyến nghị:

Tiêm vắc xin HPV cho trẻ em trong độ tuổi từ 9 đến 12Trẻ em và thanh thiếu niên từ 13 đến 26 tuổi chưa được chủng ngừa hoặc tiêm chưa đủ liều, cần chủng ngừa sớm.

Tuy nhiên không có sự bảo vệ hoàn toàn chống lại các chủng virus HPV gây ung thư, do đó vẫn nên thường xuyên tầm soát ung thư cổ tử cung.

Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC đang triển khai tiêm 2 loại vắc xin phòng ung thư cổ tử cung gồm vắc xin Gardasil và Gardasil 9. Vắc xin Gardasil có hiệu quả trong phòng ngừa ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, các tổn thương tiền ung thư và loạn sản, mụn cóc sinh dục, các bệnh lý gây ra do 4 tuýp virus HPV gồm 6, 11, 16, 18. Trong khi đó vắc xin thế hệ mới Gardasil 9 là vắc xin phòng HPV đầu tiên dành cho Nam và Nữ có hiệu quả phòng ung thư cổ tử cung và các bệnh như: ung thư cổ tử cung, ung thư âm hộ, ung thư âm đạo, ung thư hậu môn, mụn cóc sinh dục, các tổn thương tiền ung thư hoặc loạn sản gây ra do 9 tuýp HPV tuýp 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58

Dinh dưỡng

Không hút thuốc là cách phòng ngừa rất quan trọng để giảm nguy cơ tiền ung thư cổ tử cung và ung thư cổ tử cung.

Vận động

Một lối sống lành mạnh có thể giúp ngăn ngừa khả năng bị ung thư cổ tử cung. Nên có chế độ nghỉ ngơi, vận động hợp lý. Không quan hệ tình dục quá sớm, không lạm dụng thuốc tránh thai. Vệ sinh âm đạo sạch sẽ ngăn ngừa virus HPV.

Tầm soát tiền ung thư cổ tử cung

Xét nghiệm Pap và xét nghiệm tìm virus gây u nhú ở người (HPV) được sử dụng để tầm soát ung thư cổ tử cung. Hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung xâm lấn đều được phát hiện ở những phụ nữ không làm xét nghiệm Pap thường xuyên. Nếu kết quả xét nghiệm HPV dương tính, cần phải tái khám thêm, làm các xét nghiệm khác để tìm tiền ung thư hay ung thư. Nên làm xét nghiệm Pap 3 năm một lần từ tuổi 21. Nếu từ 30 đến 65 tuổi, nên thực hiện xét nghiệm Pap và xét nghiệm virus HPV 5 năm một lần.

Hạn chế tiếp xúc với HPV

HPV truyền từ người này sang người khác khi da tiếp xúc với vùng da bị nhiễm HPV. Điều này có nghĩa là virus HPV có thể lây lan mà không cần quan hệ tình dục. Thậm chí bộ phận sinh dục có thể bị lây nhiễm HPV khi tiếp xúc với bàn tay. HPV cũng có thể lây lan từ bộ phận này sang bộ phận khác của cơ thể. Nghĩa là virus HPV có thể bắt đầu ở cổ tử cung và sau đó lan đến âm đạo, âm hộ. Hạn chế số lượng bạn tình và tránh quan hệ tình dục với những người đã có nhiều bạn tình khác và sử dụng bao cao su có thể làm giảm nguy cơ phơi nhiễm với HPV. Mặc dù vậy, HPV rất phổ biến, quan hệ tình dục chỉ với một người cũng vẫn có thể bị lây nhiễm HPV.

Nếu bạn đang hoạt động tình dục và có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nên đi xét nghiệm tìm chlamydia, lậu và giang mai mỗi năm. Nên xét nghiệm HIV ít nhất một lần hoặc thường xuyên nếu bạn có nguy cơ cao.

Tỷ lệ sống sót là gần 100% khi phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, điều trị kịp thời các biến đổi tiền ung thư hoặc ung thư giai đoạn đầu. Do đó, tầm soát ung thư cổ tử cung và tiêm vắc xin ngừa virus HPV là cách duy nhất hiệu quả để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh.

Là một trong 3 bệnh lý ung thư gây tử vong hàng đầu ở nữ giới, ung thư cổ tử cung (UTCTC) thường không rõ triệu chứng, tiến triển chậm khiến người bệnh chủ quan, không điều trị từ sớm. Tuy nhiên, nếu chủ động phòng ngừa, tầm soát và phát hiện sớm, bệnh khối u cổ tử cung có thể được chữa khỏi hoàn toàn.

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) đã và đang là mối nguy hàng đầu đe dọa sức khỏe, tính mạng của phụ nữ trên toàn cầu. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm thế giới ghi nhận hơn 500.000 trường hợp mắc mới và có khoảng 250.000 ca tử vong. Ước tính đến năm 2030, số ca tử vong do căn bệnh này có thể tăng lên đến 443.000 người, gấp đôi các ca tử vong liên quan đến các tai biến sản khoa. (1)

Riêng Việt Nam ghi nhận có hơn 4.000 ca mắc mới mỗi năm và hơn 2.000 ca tử vong. Thêm vào đó, chi phí điều trị ung thư vùng cổ tử cung khá cao, gây sức ép không nhỏ đến nguồn lực kinh tế. Và căn bệnh này cũng để lại hệ lụy nặng nề cho sức khỏe, tâm sinh lý và hạnh phúc của người phụ nữ.

*
Ung thư cổ tử cung đang đe dọa sức khỏe và tính mạng của phụ nữ trên toàn cầu

Mục lục

Chẩn đoán khối u cổ tử cung
Phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung
Tầm soát ung thư cổ tử cung
Những câu hỏi thường gặp

Ung thư cổ tử cung là gì?

Ung thư cổ tử cung (tiếng Anh là Cervical Cancer) là bệnh lý ác tính của tế bào biểu mô lát (tế bào biểu mô vảy) hoặc tế bào biểu mô tuyến cổ tử cung phát triển bất thường dẫn đến hình thành các khối u trong cổ tử cung. Các khối u này nhân lên một cách mất kiểm soát, xâm lấn và tác động đến các cơ quan xung quanh, thường gặp nhất là di căn đến phổi, gan, bàng quang, âm đạo và trực tràng. (2)

Dấu hiệu ung thư cổ tử cung

Theo bác sĩ Hiền Lê, các triệu chứng ban đầu của khối u ác tính vùng cổ tử cung không rõ ràng, tiến triển thầm lặng, người bệnh khó nhận biết. Khi các triệu chứng xuất hiện rõ ràng hơn đồng nghĩa với việc tế bào ung thư đã di căn lan rộng. Các can thiệp điều trị lúc này vẫn có thể phát huy được hiệu quả, nhưng khá phức tạp và tốn nhiều chi phí. Trong trường hợp xấu nhất, phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ cắt bỏ toàn bộ tử cung, buồng trứng, các hạch bạch huyết lân cận, ảnh hưởng đến thiên chức làm mẹ. (3)

Một số dấu hiệu ung thư cổ tử cung:

Đau rát vùng chậu hoặc đau khi quan hệ tình dục;Chảy máu âm đạo bất thường, nhất là sau khi quan hệ tình dục, giữa các kỳ kinh nguyệt, sau mãn kinh hoặc sau khi khám phụ khoa;Dịch tiết âm đạo bất thường, có thể tiết nhiều hơn, có màu xám đục và có mùi hôi;Khó chịu khi đi tiểu, tiểu nhiều lần;Đi tiểu, đi ngoài ra máu (dấu hiệu cảnh báo ung thư cổ tử cung xâm lấn bàng quang, trực tràng);Kinh nguyệt thất thường, kéo dài;Sút cân, mệt mỏi không rõ nguyên nhân.
*
Đau rát vùng chậu hoặc đau khi quan hệ tình dục có thể là dấu hiệu sớm của ung thư cổ tử cung

Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Thống kê của WHO cho thấy, khoảng 99.7% trường hợp ung thư CTC đều có sự hiện diện của virus HPV (Human Papilloma Virus). Do đó, virus HPV được coi là yếu tố nguy cơ cao nhất dẫn đến việc mắc bệnh lý này ở nữ giới.

Virus HPV là loại virus có hơn 100 týp với khoảng 15 týp được xếp vào nhóm nguy cơ cao dẫn đến khối u ác tính cổ tử cung, phổ biến nhất là các týp 16 và 18 (nguyên nhân của hơn 70% trường hợp mắc bệnh ở nữ giới), tiếp đến là týp 31 và 45.

*

Th
S.BS Đinh Thị Hiền Lê – Bác sĩ cao cấp khoa Phụ sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội cho biết, virus HPV chủ yếu lây nhiễm qua đường tình dục, một số ít trường hợp người bệnh không quan hệ tình dục, chỉ tiếp xúc ngoài da nhưng vẫn có nguy cơ bị lây nhiễm. Hầu hết các trường hợp lây nhiễm virus HPV không có triệu chứng cụ thể, người bệnh có thể tự khỏi sau vài tháng mà không cần điều trị.


*

Tuy nhiên, đối với những trường hợp nhiễm týp virus HPV có nguy cơ cao, virus này có thể tồn tại lâu dài trong cơ thể gây biến đổi gen tế bào cổ tử cung, dẫn đến các tổn thương sơ khởi và lâu ngày tăng dần dẫn đến ung thư.

Mặc dù quá trình tiến triển đến ung thư ở vị trí này thường không có triệu chứng rõ ràng, diễn tiến chậm, kéo dài khoảng 10-15 năm nhưng một số quốc gia đã ghi nhận căn bệnh này có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt ở những quốc gia có đời sống quan hệ tình dục sớm.

Phân loại ung thư cổ tử cung

Tùy theo loại ung thư cổ tử cung mà người bệnh được chỉ định phương pháp điều trị khác nhau:

Ung thư biểu mô tế bào gai (Squamous cell carcinoma):
Là dạng ung thư bắt đầu từ các tế bào mỏng, phẳng lót phần ngoài của cổ tử cung. Theo thống kê, đây là dạng ung thư cổ tử cung phổ biến nhất, khoảng 80 – 85% tổng số các trường hợp, xuất hiện do nhiễm virus gây u nhú ở người (HPV).Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma): Là dạng ung thư xảy ra ở các tế bào tuyến dòng phần trên cổ tử cung, chiếm khoảng 10 – 20% tổng số các trường hợp mắc bệnh.Các dạng ung thư cổ tử cung khác như ung thư biểu mô tế bào nhỏ, ung thư mô liên kết – tuyến, ung thư biểu mô tuyến – tế bào gai, ung thư lympho, ung thư hắc tố… thường không có sự liên quan đến virus gây u nhú HPV, xác suất ít gặp hơn nhưng lại không thể phòng ngừa được như ung thư biểu mô tế bào gai.

Các giai đoạn của ung thư cổ tử cung

Thông thường, bệnh lý phát triển qua các giai đoạn: (4)

Giai đoạn 0: Giai đoạn này chưa có tế bào ung thư ở cổ tử cung, bắt đầu xuất hiện các tế bào bất thường và có thể phát triển thành tế bào ung thư trong tương lai. Do đó, giai đoạn này được gọi là tiền ung thư hoặc ung thư biểu mô tại chỗ.Giai đoạn I: Ung thư chỉ mới xảy ra ở bên trong cổ tử cung.Giai đoạn II: Ung thư đã bắt đầu lan ra bên ngoài cổ tử cung, xâm lấn vào các mô xung quanh nhưng chưa đến các mô lót trong khung chậu hoặc phần dưới của âm đạo.Giai đoạn III: Các tế bào ung thư đã xâm lấn vào phần dưới của âm đạo và các mô lót trong khung chậu.Giai đoạn IV: Ung thư di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể, như: ruột, bàng quang, phổi…
*
Các giai đoạn của u cổ tử cung

Biến chứng nguy hiểm của bệnh ung thư cổ tử cung

Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể tiến triển xấu, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm, đe dọa sức khỏe và tính mạng của người bệnh. Các biến chứng nguy hiểm như:

Vô sinh: Các khối u xâm lấn và tác động đến cổ tử cung – nơi tinh trùng và trứng gặp nhau. Trong một số trường hợp, để điều trị dứt điểm bệnh, đảm bảo tính mạng người bệnh đòi hỏi phải cắt toàn bộ tử cung và buồng trứng, điều này đồng nghĩa với việc phụ nữ mất đi thiên chức làm mẹ. Thêm vào đó, việc cắt buồng trứng có thể khiến quá trình mãn kinh diễn ra sớm hơn.Ảnh hưởng tâm sinh lý: Bệnh gây rối loạn cảm xúc, nhiều trường hợp người bệnh bị trầm cảm, tan vỡ hạnh phúc gia đình.Chảy máu bất thường: Trường hợp các khối u xâm lấn vào âm đạo, hoặc di căn đến ruột, bàng quang có thể gây chảy máu, người bệnh đi tiểu có lẫn máu.Suy thận: Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các khối u có thể chen vào niệu quản, làm tắc dòng nước tiểu ra khỏi thận. Khi nước tiểu tích tụ lâu ngày sẽ khiến thận sưng lên, nguy cơ gây sẹo thận và suy giảm chức năng thận.
*
Ung thư cổ tử cung có thể dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng hạnh phúc gia đình

Khối u ác tính cổ tử cung nếu được phát hiện sớm, ngay từ giai đoạn tiền ung thư thì tỷ lệ chữa khỏi có thể lên đến hơn 90%. Ở giai đoạn I, tỷ lệ điều trị thành công vào khoảng 85-90% và giảm dần ở các giai đoạn sau. Đến giai đoạn II giảm còn 50-75%, giai đoạn III là 25-40% và ở giai đoạn IV chỉ còn 15%, tiên lượng người bệnh chỉ kéo dài sự sống thêm 5 năm”, Th
S.BS Đinh Thị Hiền Lê nhấn mạnh.

Đối tượng nào có nguy cơ cao mắc ung thư cổ tử cung?

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một số yếu tố làm khả năng thay đổi từ tế bào lành tính sang tế bào ung thư, tăng nguy cơ mắc khối u cổ tử cung ở nữ giới gồm:

Có nhiều bạn tình: Số lượng bạn tình càng nhiều, nhất là mỗi bạn tình đó lại có nhiều bạn tình khác thì khả năng mắc ung thư do HPV ở nữ giới càng cao.Quan hệ tình dục sớm: Việc bắt đầu quan hệ tình dục ở độ tuổi càng sớm càng tăng nguy cơ mắc bệnh.Mang thai quá sớm hoặc mang thai nhiều lần: Việc mang thai và sinh nở khi còn quá trẻ – cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn thiện (trước 17 tuổi) làm tăng nguy cơ gây tổn thương cơ quan sinh sản, đặc biệt là cổ tử cung. Một số nghiên cứu cũng cho thấy, phụ nữ mang thai nhiều lần (≥ 4 lần) có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.Mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác: Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác như chlamydia, giang mai, HIV/AIDS… làm tăng nguy cơ lây nhiễm virus HPV – nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh ung thư cổ tử cung.Hệ miễn dịch suy yếu: Hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng đối với việc tiêu diệt các tế bào ung thư, do đó nếu hệ miễn dịch suy yếu sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm virus HPV.Hút thuốc lá: Trong thuốc lá chứa chất nicotine – một chất làm suy yếu hệ miễn dịch, gây mất cân bằng ở các gen sinh ung thư.
*
Việc quan hệ tình dục sớm hoặc quan hệ không an toàn làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý này

Chẩn đoán khối u cổ tử cung

Thông qua quá trình khám lâm sàng, hỏi bệnh sử, nếu nghi ngờ người bệnh có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện một số xét nghiệm cần thiết. (5)

1. Soi cổ tử cung

Phương pháp chẩn đoán này được sử dụng trong trường hợp người bệnh có kết quả xét nghiệm sàng lọc cổ tử cung bất thường, hoặc có một trong các triệu chứng ung thư cổ tử cung. Mục đích của phương pháp này nhằm phát hiện những bất thường trong cổ tử cung của người bệnh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.